Chào mừng quý vị đến với Cẩm nang Tri thức- Đặng Thanh Nghị - Knowledge Handbook.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Hình ảnh Huế

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Nguyễn Thị Hậu (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:41' 24-08-2009
Dung lượng: 38.9 MB
Số lượt tải: 45
Nguồn: ST
Người gửi: Nguyễn Thị Hậu (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:41' 24-08-2009
Dung lượng: 38.9 MB
Số lượt tải: 45
Số lượt thích:
0 người
Chương trình
giới thiệu di sản
Văn hoá Huế
Hà Nội, tháng 3 năm 2007
giới thiệu di sản và
các công trình
Mĩ thuật Huế
Từ năm 1802 đến năm 1945
Bản đồ hành chính TP Huế
Nằm giữa dải đất miền Trung khí hậu khô cằn, hè nắng dội, đông mưa dầm, là một vùng non xanh nước biếc, phong cảnh kỳ tú trải dọc theo bờ con sông Hương xuôi ra biển Đông. Huế từ thời các chúa Nguyễn đã từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long năm 1635-1687; Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân trong những năm 1687-1712; 1739-1774. Huế còn là kinh đô triều vua Quang Trung Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn, rồi một lần nữa chính thức trở thành kinh đô của cả nước Việt Nam khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm. Với bề dày lịch sử gắn liền với chín đời cha ông nhà Nguyễn ở đây, không có gì khó hiểu khi vua Gia Long chọn mảnh đất nằm ở trung độ đất nước để làm kinh đô cho triều đại mình.
Kinh thành Huế
Khởi công xây dựng năm 1805, Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha, có 10 cửa chính gồm:
- Cửa Chính Bắc (còn gọi cửa Hậu, nằm ở mặt sau Kinh Thành).
- Cửa Tây-Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây).
- Cửa Chính Tây.
- Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành).
- Cửa Chính Nam (còn gọi cửa Nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố - nhà để đồ binh khí, lập thời Gia Long).
- Cửa Quảng Đức .
- Cửa Thể Nhơn (tức cửa Ngăn, do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông).
- Cửa Đông-Nam (còn gọi cửa Thượng Tứ do có Viện Thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa).
- Cửa Chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư ở đây).
- Cửa Đông-Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài)
Kinh thành Huế
Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn.
Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan.
Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Kinh Thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây kiểu Vauban (tên một kiến trúc sư người Pháp cuối thế kỷ XVII) .
Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát năm 1803 (triều vua Gia Long) đến khi hoàn chỉnh vào năm 1832 (triều vua Minh Mạng).
Kinh thành Huế
A- Kinh thành Huế
1- Kỳ Đài
Không gian kỳ đài
1- Kỳ Đài
Từ Bến Văn Lâu nhìn về Kỳ Đài
2- Trường Quốc tử giám
Di Luân Đường
2- Trường Quốc tử giám
Phòng Học trong Quốc Tử Giám
3- Điện Long An
Ngoại thất Điện Long An
3- Điện Long An
Nội thất Điện Long An
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Tranh gương đá và cổ vật ở Điện Long An
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Cổ vật gốm sứ
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Cặp lồng sứ
Đĩa sứ
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Tô sứ
Chóe sứ thời Khang Hy
(Quà tặng của Nhà Thanh)
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Kim Chi Ngọc Điệp
Khay đựng mức bằng Pháp Lam
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Lư đồng
Ngai TháI Tử
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Y phục Cung Đình
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Sa kép Hoàng TháI Hậu
Tế phục của Vua Minh Mạng
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Đãy trầu thuốc của các bà phi
ĐôI hài của Vua Bảo Đại
Đôi hia KhảI Định
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Đầu Hổ khảm trai
(Tự Đức)
Trò chơI Đầu hổ
5- Hồ tịnh tâm
Không gian hồ Tịnh Tâm
5- Hồ tịnh tâm
Đảo Bồng Lai - hồ Tịnh Tâm
5- Hồ tịnh tâm
Lầu Bát giác trên Đảo Bồng Lai (1960)
5- Hồ tịnh tâm
Một góc sen Hồ Tịnh Tâm
6- Tàng Thơ Lâu
Toàn cảnh Lầu Tàng Thơ
6- Tàng Thơ Lâu
Lầu Tàng Thơ
7- Viện cơ mật
Toà nhà chính ở Viện Cơ Mật
7- Viện cơ mật
Voi quì trước cổng Viện Cơ Mật
7- Viện cơ mật
Viện Cơ Mật (Tam Toà)
7- Viện cơ mật
Cổng chính của Tam Toà
8- Đàn xã tắc
ảnh tư liệu Đàn Xã Tắc (1914)
Văn Thánh trồng thông,
Võ Thánh trồng bàng,
Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u
9- cửU Vị THầN CÔNG
CửU Vị Thần Công
9- cửU Vị THầN CÔNG
Tên của Cửu Vị Thần Công
1- Xuân 2- Hạ
3- Thu 4- Đông
5- Kim 6- Mộc
7- Thuỷ 8- Hoả
9- Thổ
Vào năm 1816, vua Gia Long sắc phong cho cả 9 khẩu đại bác này danh hiệu: "Thần Oai Vô Địch Thượng tướng quân"
10- Hoàng Thành
10- Hoàng Thành
Khu vực Cử hành Đại Lễ
11- Ngọ Môn
11- Ngọ Môn
Lầu Ngũ Phượng
“Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai cửa quanh"
12- điện thái hoà và sân đại triều nghị
Ngoại thất Điện Thái Hoà
12- điện thái hoà và sân đại triều nghị
Nội thất Điện Thái Hoà
12- điện thái hoà và sân đại triều nghị
Cầu Trung Đạo Bắc qua hồ Thái Dịch đến Điện Thái Hoà
13- Triệu Miếu
Triệu Tổ miếu là miếu thờ ông Nguyễn Kim, còn gọi là Cam (1468-1545), thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Nguyễn Kim là người đã phò Lê Trang Tông khởi đầu cho sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Năm 1545, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Sau này, triều Nguyễn truy tôn miếu hiệu cho ông là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế.
Triệu Miếu được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804) ở phía đông nam, bên trong Hoàng Thành, phía bắc của Thái Miếu. Về hình thức và qui mô kiến trúc, Triệu Miếu tương tự như Hưng Miếu, miếu gồm 1 tòa điện chính theo lối nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Hai bên điện chính có Thần Khố (phía đông) và Thần Trù (phía tây). Khuôn viên khu miếu hình chữ nhật, tường phía nam gắn liền với tường Thái Miếu. Bên trong điện chính đặt án thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế và Hoàng hậu. Mỗi năm tổ chức 5 lần tế tương tự ở Thái Miếu
14- hưng Miếu
14- hưng Miếu
Một gian nội thất Hưng Miếu
15- Thế Miếu
15- Thế Miếu
Các án thờ Vua Nguyễn - Nội thất Thế Miếu
16- Thái Miếu
Thái Miếu (tức Thái Tổ Miếu) là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc đông nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía tây nam.
Qui mô và bố trí kiến trúc của Thái Miếu gần tương tự như Thế Miếu. Tòa điện chính kiến trúc theo lối nhà kép trùng thiềm điệp ốc, chính đường 13 gian 2 chái kép, tiền đường 15 gian 2 chái đơn. Phía đông điện chính là điện Long Đức, phía nam có điện Chiêu Kính. Đối diện với điện Chiêu Kính ở phía tây là điện Mục Tư, phía bắc điện này có tòa nhà vuông. Trước sân Thái Miếu có gác Tuy Thành (tên cũ là gác Mục Thanh), 3 tầng, hình thức tương tự như gác Hiển Lâm ở Thế Miếu. Hai bên gác Tuy Thành có tường ngắn, trên có lầu chuông, lầu trống, dưới trổ cửa vòm. Phía nam của gác Tuy Thành, 2 bên có nhà Tả Vu, Hữu Vu. Toàn bộ khu vực Thái Miếu có tường gạch bao bọc, trổ 5 cửa ra các phía. Các án thờ của chúa Nguyễn đều đặt trong tòa điện chính, bài vị phối thờ các công thần đặt ở Tả Vu và Hữu Vu. Lễ tế tổ chức 1 năm 5 lần vào các tháng manh xuân, manh hạ, mạnh thu, mạnh đông và quý đông.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầu năm 1947, khu vực Thái Miếu gần như bị thiêu hủy hoàn toàn. Năm 1971-1972, hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc đã quyên góp và dựng lại 1 tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn.
17- Cung diên thọ
Không gian Cung Diên Thọ
17- Cung diên thọ
Một gian nội thất Cung Diên Thọ
17- Cung diên thọ
Nhà Tạ Trường Du - Cung Diên Thọ
18- Cung trường sanh
Cung điện thời Nguyễn, nằm ở góc tây bắc trong Hoàng thành, phía sau cung Diên Thọ. Cung được khởi công xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 1 (1821), với tên ban đầu là cung Trường Ninh, kiểu thức như một hoa viên. Kiến trúc ban đầu xếp theo hình chữ tam, gồm một điện chính ở giữa, một điện phía trước, một lầu phía sau và một số công trình phụ ở xung quanh. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cung Trường Ninh được “đại gia trùng tu” kiến trúc cung được nâng cấp về quy mô. Trục kiến trúc chính xếp theo hình chữ Vương, trong đó điện Thọ Khang được đặt chính giữa, tòa Ngũ Đại Đồng Đường đặt phía trước, lầu Vạn Phúc đứng sau cùng. Ba tòa nhà này có nền nối liền nhau và có hệ thống hành lang thông suốt.
Năm 1923, vua Khải Định cho tu bổ cung đổi tên thành Trường Sanh và dựng thêm hai tòa nhà để xe ở phía trước, gần cổng vào cung.
Đến nay, trải qua thời gian và các biến động lịch sử, kiến trúc cung Trường Sanh đã có nhiều thay đổi và phần nhiều đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Tuy nhiên, thời còn rực rỡ nó đã từng được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ bảy của thắng cảnh đất Thần Kinh.
19- hiển lâm các
20- cửu đỉnh
20- cửu đỉnh
20- cửu đỉnh
Hoạ tiết cây lúa trên Cao Đỉnh
21- Tử Cấm thành
Không gian Tử Cấm Thành
22- Vạc đồng
Vạc đồng trên sân trước Điện Cần Chánh
23- Điện cần chánh
23- Điện cần chánh
ảnh tư liệu Điện Cần Chánh
24- duyệt thị đường
Nhà hát Duyệt Thị Đường
24- duyệt thị đường
Nhà hát Duyệt Thị Đường (1965)
“Âm nhạc tịnh trần hoà kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí
Nghiên xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”
Dịch nghĩa:
Âm nhạc cùng phô bày, hoà lòng người để nuôi dưỡng chí khí.
Thiện ác đồng trình diện, khiến giữ được cái tốt (cái đúng) mà giới hạn cái xấu ( cái sai).
25- danh sách 13 đời vua triều nguyễn
1- Vua Gia Long
2- Vua Minh Mạng
3- Vua Thiệu Trị
4- Vua Tự Đức
5- Vua Dục Đức
6- Vua Hiệp Hoà
7- Vua Kiến Phúc
8- Vua Hàm Nghi
9- Vua Đồng Khánh
10- Vua Thành Thái
12- Vua Duy Tân
12- Vua Khải Định
13- Vua Bảo Đại
Vua Gia Long
B- Ngoại thành Huế
1- Cầu trường tiền - Sông Hương
1- Cầu trường tiền - Sông Hương
Hoàng Hôn trên Sông Hương
2- Núi ngự Bình
Núi Ngự Bình: Cao 105 m
Cùng với Sông Hương, núi Ngự Bình là biểu tượng tuyệt vời của Huế. Người ta vẫn gọi Huế là miền Hương Ngự
3- Đồi thiên an và hồ thuỷ tiên
Đồi thông Thiên An
Hồ Thuỷ Tiên
4- Đồi vọng cảnh
Sông Hương nhìn từ đồi Vọng Cảnh
Đồi vọng cảnh Nằm ven sông Hương, chỉ cách lăng Tự Ðức và Ðồng khánh chừng 600m, cách trung tâm Thành phố khoảng 7km, không xinh đẹp và nổi tiếng như núi Ngự Bình. Nhưng đúng như tên gọi, đứng trên đồi Vọng cảnh, du khách có thể bao quát bức tranh phong cảnh thiên nhiên bao la kỳ thú của xứ Huế.
5- Chùa thiên mụ
Chùa Thiên Mụ
Tượng ở Chùa Thiên Mụ
6- Phu văn lâu
6- Phu văn lâu
Toàn cảnh Ngênh Lương Đình - Phu Văn Lâu
7- Toà thương bạc
Không gian toà Thương Bạc
7- Toà thương bạc
Đình Thương Bạc
8- Văn Thánh (Văn Miếu)
8- Văn Thánh (Văn Miếu)
Văn Bia
9- Võ thánh
Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Với chu vi khoảng 400m, cấu trúc Võ Miếu cũng không cầu kỳ, gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Chung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có nhà Tể sinh - là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế.
Năm 1839 (Minh Mạng thứ 20), triều đình cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu. Những tấm bia này ghi tên những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng như: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển...
Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới thời Tự Đức:
1. Khoa Ất Sửu (1865)
2. Khoa Mậu Thìn (1868)
3. Khoa Kỷ Tỵ (1869).
Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội..., trong miếu còn có bài vị thờ các danh tướng của Trung Quốc như: Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng...
10- Đàn Nam giao
Đàn Nam Giao - Nơi các Vua Nguyễn Tế Trời
10- Đàn Nam giao
11- hổ quyền
11- hổ quyền
Di tích Hổ Quyền
12- Điện voi ré
Theo truyền thuyết, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, trong một trận giao tranh với quân đội Đàng Ngoài, một dũng tướng của Đàng Trong hy sinh giữa trận tiền. Đau buồn trước cái chết của chủ, con voi của vị dũng tướng đã chạy trên một quãng đường dài hằng trăm dặm từ chiến địa về tận thủ phủ Phú Xuân, đến địa điểm phía đông của đồi Thọ Cương, nó đã rống lên một tiếng vang trời như phẫn uất, như đau thương cùng cực rồi phủ xuống trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước sự trung thành của một con vật có nghĩa, dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho nó, nguời ta vẫn gọi một cách mộc mạc là mộ Voi Ré. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré
13- Điện hòn chén
Đình Thương Bạc
13- Điện hòn chén
Điện Hòn Chén là một cụm di tích gồm khoảng 10 công trình kiến trúc to nhỏ khác nhau đều nằm lưng chừng sườn núi Ngọc Trản, hướng mặt ra sông Hương, ẩn mình dưới những tàng cây cao bóng cả.
14- trấn hải thành
Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) nằm ở vị trí gần cửa biển Thuận An cũ. Trận bão năm 1904 đã đổi dời cửa biển, lấp cửa cũ, mở cửa mới chỉ cách đó chừng 3km về phía Đông. Nhân dân gọi cửa Thuận An cũ là cửa Lấp (hoặc cửa Eo). Đây là một vị trí có tính chiến lược không chỉ đối với việc an nguy của Kinh Thành Huế - đầu não của bộ máy trung ương tập quyền dưới thời các vua Nguyễn, mà còn là vị trí quân sự được xem là “bất khả xâm phạm” của lực lượng viễn chinh Pháp, Mỹ tại miền duyên hải Thừa Thiên sau này.
Có thể nói, vua Gia Long khi chọn Huế làm kinh đô đã tính trước mọi lợi thế phòng thủ ở đây: mặt Bắc có Quảng Bình Quan, mặt Nam có Hải Vân Quan trấn giữ. Phía Tây là dãy núi Trường Sơn trùng điệp vươn tay che chở. Còn mặt Đông, cửa biển Thuận An chỉ cách Kinh Thành Huế chừng 13km - là nơi “yết hầu” của Kinh Thành, nhất thiết phải có một đồn quan ải để trấn giữ giặc cướp từ biển tràn vào. Trấn Hải Thành ban đầu có tên là Trấn Hải Đài, được khởi công xây dựng vào năm 1813. Đến năm 1834, dưới triều vua Minh Mạng, công trình được đổi tên là Trấn Hải Thành
15- nghênh lương đình
15- nghênh lương đình
Tuy không phải là một công trình đặc sắc về kiến trúc hoặc có quy mô lớn, nhưng Nghênh Lương Đình là một bộ phận không thể tách rời của cụm kiến trúc Nghênh Lương Đình - Phu Văn Lâu và Kỳ đài. Nghênh Lương Đình còn đi vào người bằng cái tên "bến Văn Lâu" trong đoạn ca dao bất hủ:
16- Cung an định
Cung môn Cung An Định
16- Cung an định
Đình Trung Lập, Khải Tường Lâu - Cung An Định
14- Cung an định
Nội thất Khải Tường Lâu - Cung An Định
17- các lăng tẩm
17- các lăng tẩm
Lăng Đồng Khánh
18- Kiến trúc ở huế
Kiến trúc ở Huế rất phong phú, đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại...Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là quần thể kiến trúc dưới triều các vua Nguyễn. Mỗi công trình kiến trúc là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, đặc sắc, độc đáo, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thẩm mỹ riêng biệt đã góp phần làm cho Huế trở thành "bài thơ đô thị tuyệt tác".
18- Kiến trúc ở huế
Bờ hồ lọ
Bờ quyết
18- Kiến trúc ở huế
Mỏi đầu hồi
Hoa văn và phù điêu trên Thái Bình Lâu
19- Nghệ thuật ở huế
Cảnh hát bội
19- Nghệ thuật ở huế
Cảnh Ca Huế
19- Nghệ thuật ở huế
Đội nhạc Cung Đình
19- Nghệ thuật ở huế
Vũ khúc Cung Đình
20- Lễ hội ở huế
Diều Huế
20- Lễ hội ở huế
Diều Huế
20- Lễ hội ở huế
Lễ hội làng Chuồn
20- Lễ hội ở huế
Lễ hội đua thuyền
21- món ăn huế
21- món ăn huế
21- món ăn huế
21- món ăn huế
Món ăn Huế cũng là một loại hình văn hóa, bởi vì nó không chỉ là thức ăn và khẩu vị mà quan trọng hơn thế nhiều, chính là nghệ thuật làm món ăn của người Huế. Huế đặc biệt còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân giã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được các bà nội trợ Huế chế biến khéo léo, thông minh với kỹ thuật nấu nướng giỏi giang, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn rất đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế. Ngoài ra, nếu ai đã từng thưởng thức một bữa cơm chay Huế (các món ăn được chế biến từ các loại thực vật), chắc chắn sẽ không bao giờ quên được hương vị tinh khiết tuyệt vời của những món ăn Huế.
22- Mỹ thuật - mỹ nghệ huế
22- Mỹ thuật - mỹ nghệ huế
23- bản đồ các điểm di tích cố đô huế
24- Bảo tồn
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Phê duyệt Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị
di tích cố đô Huế 1996-2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
(§· ký)
VÕ VĂN KIỆT
Trường Đại học sư phạm Hà Nội
khoa Mĩ Thuật
Sinh viên:Thân Ngọc Khanh
Luận văn tốt nghiệp
Đề tài: nghiên cứu bảo tồn các công trình Mĩ thuật thời Nguyên
24- Bảo tồn
Bảo tồn di sản văn hóa Cố đô Huế.
Phát huy mọi giá trị quý giá của di sản văn hóa cố đô Huế, bao gồm giá trị di sản văn hóa vật chất, giá trị di sản văn hóa tinh thần và giá trị di sản văn hóa môi trường cảnh quan đô thị và thiên nhiên trong việc giáo dục giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Di tích Cố đô Huế cần phải được bảo tồn trong quy họach tổng thể thống nhất; có phân cấp, phân loại những di sản cần bảo tồn theo đúng nguyên mẫu nhằm giữ nguyên giá trị lịch sử và giá trị văn hóa kiến trúc, nghệ thuật vốn có; những di sản cần được mô phỏng với các giải pháp tiên tiến, chất liệu hiện đại nhưng phải bảo đảm không làm thay đổi giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật vốn có của chúng. Chú trọng việc bảo quản thường xuyên các di tích trước các mối đe dọa như phá hoại, mất mát, xâm lấn, hỏa hoạn, sụp đổ. Ưu tiên các chương trình và biện pháp chống xuống cấp gắn với trùng tu trên cơ sở khoa học; chỉ phục nguyên những di tích có giá trị đặc biệt khi đã có đủ những căn cứ khoa học cần thiết.
giới thiệu di sản
Văn hoá Huế
Hà Nội, tháng 3 năm 2007
giới thiệu di sản và
các công trình
Mĩ thuật Huế
Từ năm 1802 đến năm 1945
Bản đồ hành chính TP Huế
Nằm giữa dải đất miền Trung khí hậu khô cằn, hè nắng dội, đông mưa dầm, là một vùng non xanh nước biếc, phong cảnh kỳ tú trải dọc theo bờ con sông Hương xuôi ra biển Đông. Huế từ thời các chúa Nguyễn đã từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long năm 1635-1687; Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân trong những năm 1687-1712; 1739-1774. Huế còn là kinh đô triều vua Quang Trung Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn, rồi một lần nữa chính thức trở thành kinh đô của cả nước Việt Nam khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm. Với bề dày lịch sử gắn liền với chín đời cha ông nhà Nguyễn ở đây, không có gì khó hiểu khi vua Gia Long chọn mảnh đất nằm ở trung độ đất nước để làm kinh đô cho triều đại mình.
Kinh thành Huế
Khởi công xây dựng năm 1805, Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha, có 10 cửa chính gồm:
- Cửa Chính Bắc (còn gọi cửa Hậu, nằm ở mặt sau Kinh Thành).
- Cửa Tây-Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây).
- Cửa Chính Tây.
- Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành).
- Cửa Chính Nam (còn gọi cửa Nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố - nhà để đồ binh khí, lập thời Gia Long).
- Cửa Quảng Đức .
- Cửa Thể Nhơn (tức cửa Ngăn, do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông).
- Cửa Đông-Nam (còn gọi cửa Thượng Tứ do có Viện Thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa).
- Cửa Chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư ở đây).
- Cửa Đông-Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài)
Kinh thành Huế
Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn.
Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan.
Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Kinh Thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây kiểu Vauban (tên một kiến trúc sư người Pháp cuối thế kỷ XVII) .
Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát năm 1803 (triều vua Gia Long) đến khi hoàn chỉnh vào năm 1832 (triều vua Minh Mạng).
Kinh thành Huế
A- Kinh thành Huế
1- Kỳ Đài
Không gian kỳ đài
1- Kỳ Đài
Từ Bến Văn Lâu nhìn về Kỳ Đài
2- Trường Quốc tử giám
Di Luân Đường
2- Trường Quốc tử giám
Phòng Học trong Quốc Tử Giám
3- Điện Long An
Ngoại thất Điện Long An
3- Điện Long An
Nội thất Điện Long An
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Tranh gương đá và cổ vật ở Điện Long An
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Cổ vật gốm sứ
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Cặp lồng sứ
Đĩa sứ
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Tô sứ
Chóe sứ thời Khang Hy
(Quà tặng của Nhà Thanh)
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Kim Chi Ngọc Điệp
Khay đựng mức bằng Pháp Lam
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Lư đồng
Ngai TháI Tử
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Y phục Cung Đình
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Sa kép Hoàng TháI Hậu
Tế phục của Vua Minh Mạng
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Đãy trầu thuốc của các bà phi
ĐôI hài của Vua Bảo Đại
Đôi hia KhảI Định
4- Bảo tàng mỹ thuật cung đình huế
Đầu Hổ khảm trai
(Tự Đức)
Trò chơI Đầu hổ
5- Hồ tịnh tâm
Không gian hồ Tịnh Tâm
5- Hồ tịnh tâm
Đảo Bồng Lai - hồ Tịnh Tâm
5- Hồ tịnh tâm
Lầu Bát giác trên Đảo Bồng Lai (1960)
5- Hồ tịnh tâm
Một góc sen Hồ Tịnh Tâm
6- Tàng Thơ Lâu
Toàn cảnh Lầu Tàng Thơ
6- Tàng Thơ Lâu
Lầu Tàng Thơ
7- Viện cơ mật
Toà nhà chính ở Viện Cơ Mật
7- Viện cơ mật
Voi quì trước cổng Viện Cơ Mật
7- Viện cơ mật
Viện Cơ Mật (Tam Toà)
7- Viện cơ mật
Cổng chính của Tam Toà
8- Đàn xã tắc
ảnh tư liệu Đàn Xã Tắc (1914)
Văn Thánh trồng thông,
Võ Thánh trồng bàng,
Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u
9- cửU Vị THầN CÔNG
CửU Vị Thần Công
9- cửU Vị THầN CÔNG
Tên của Cửu Vị Thần Công
1- Xuân 2- Hạ
3- Thu 4- Đông
5- Kim 6- Mộc
7- Thuỷ 8- Hoả
9- Thổ
Vào năm 1816, vua Gia Long sắc phong cho cả 9 khẩu đại bác này danh hiệu: "Thần Oai Vô Địch Thượng tướng quân"
10- Hoàng Thành
10- Hoàng Thành
Khu vực Cử hành Đại Lễ
11- Ngọ Môn
11- Ngọ Môn
Lầu Ngũ Phượng
“Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai cửa quanh"
12- điện thái hoà và sân đại triều nghị
Ngoại thất Điện Thái Hoà
12- điện thái hoà và sân đại triều nghị
Nội thất Điện Thái Hoà
12- điện thái hoà và sân đại triều nghị
Cầu Trung Đạo Bắc qua hồ Thái Dịch đến Điện Thái Hoà
13- Triệu Miếu
Triệu Tổ miếu là miếu thờ ông Nguyễn Kim, còn gọi là Cam (1468-1545), thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Nguyễn Kim là người đã phò Lê Trang Tông khởi đầu cho sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Năm 1545, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Sau này, triều Nguyễn truy tôn miếu hiệu cho ông là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế.
Triệu Miếu được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804) ở phía đông nam, bên trong Hoàng Thành, phía bắc của Thái Miếu. Về hình thức và qui mô kiến trúc, Triệu Miếu tương tự như Hưng Miếu, miếu gồm 1 tòa điện chính theo lối nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Hai bên điện chính có Thần Khố (phía đông) và Thần Trù (phía tây). Khuôn viên khu miếu hình chữ nhật, tường phía nam gắn liền với tường Thái Miếu. Bên trong điện chính đặt án thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế và Hoàng hậu. Mỗi năm tổ chức 5 lần tế tương tự ở Thái Miếu
14- hưng Miếu
14- hưng Miếu
Một gian nội thất Hưng Miếu
15- Thế Miếu
15- Thế Miếu
Các án thờ Vua Nguyễn - Nội thất Thế Miếu
16- Thái Miếu
Thái Miếu (tức Thái Tổ Miếu) là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc đông nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía tây nam.
Qui mô và bố trí kiến trúc của Thái Miếu gần tương tự như Thế Miếu. Tòa điện chính kiến trúc theo lối nhà kép trùng thiềm điệp ốc, chính đường 13 gian 2 chái kép, tiền đường 15 gian 2 chái đơn. Phía đông điện chính là điện Long Đức, phía nam có điện Chiêu Kính. Đối diện với điện Chiêu Kính ở phía tây là điện Mục Tư, phía bắc điện này có tòa nhà vuông. Trước sân Thái Miếu có gác Tuy Thành (tên cũ là gác Mục Thanh), 3 tầng, hình thức tương tự như gác Hiển Lâm ở Thế Miếu. Hai bên gác Tuy Thành có tường ngắn, trên có lầu chuông, lầu trống, dưới trổ cửa vòm. Phía nam của gác Tuy Thành, 2 bên có nhà Tả Vu, Hữu Vu. Toàn bộ khu vực Thái Miếu có tường gạch bao bọc, trổ 5 cửa ra các phía. Các án thờ của chúa Nguyễn đều đặt trong tòa điện chính, bài vị phối thờ các công thần đặt ở Tả Vu và Hữu Vu. Lễ tế tổ chức 1 năm 5 lần vào các tháng manh xuân, manh hạ, mạnh thu, mạnh đông và quý đông.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầu năm 1947, khu vực Thái Miếu gần như bị thiêu hủy hoàn toàn. Năm 1971-1972, hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc đã quyên góp và dựng lại 1 tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn.
17- Cung diên thọ
Không gian Cung Diên Thọ
17- Cung diên thọ
Một gian nội thất Cung Diên Thọ
17- Cung diên thọ
Nhà Tạ Trường Du - Cung Diên Thọ
18- Cung trường sanh
Cung điện thời Nguyễn, nằm ở góc tây bắc trong Hoàng thành, phía sau cung Diên Thọ. Cung được khởi công xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 1 (1821), với tên ban đầu là cung Trường Ninh, kiểu thức như một hoa viên. Kiến trúc ban đầu xếp theo hình chữ tam, gồm một điện chính ở giữa, một điện phía trước, một lầu phía sau và một số công trình phụ ở xung quanh. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cung Trường Ninh được “đại gia trùng tu” kiến trúc cung được nâng cấp về quy mô. Trục kiến trúc chính xếp theo hình chữ Vương, trong đó điện Thọ Khang được đặt chính giữa, tòa Ngũ Đại Đồng Đường đặt phía trước, lầu Vạn Phúc đứng sau cùng. Ba tòa nhà này có nền nối liền nhau và có hệ thống hành lang thông suốt.
Năm 1923, vua Khải Định cho tu bổ cung đổi tên thành Trường Sanh và dựng thêm hai tòa nhà để xe ở phía trước, gần cổng vào cung.
Đến nay, trải qua thời gian và các biến động lịch sử, kiến trúc cung Trường Sanh đã có nhiều thay đổi và phần nhiều đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Tuy nhiên, thời còn rực rỡ nó đã từng được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ bảy của thắng cảnh đất Thần Kinh.
19- hiển lâm các
20- cửu đỉnh
20- cửu đỉnh
20- cửu đỉnh
Hoạ tiết cây lúa trên Cao Đỉnh
21- Tử Cấm thành
Không gian Tử Cấm Thành
22- Vạc đồng
Vạc đồng trên sân trước Điện Cần Chánh
23- Điện cần chánh
23- Điện cần chánh
ảnh tư liệu Điện Cần Chánh
24- duyệt thị đường
Nhà hát Duyệt Thị Đường
24- duyệt thị đường
Nhà hát Duyệt Thị Đường (1965)
“Âm nhạc tịnh trần hoà kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí
Nghiên xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”
Dịch nghĩa:
Âm nhạc cùng phô bày, hoà lòng người để nuôi dưỡng chí khí.
Thiện ác đồng trình diện, khiến giữ được cái tốt (cái đúng) mà giới hạn cái xấu ( cái sai).
25- danh sách 13 đời vua triều nguyễn
1- Vua Gia Long
2- Vua Minh Mạng
3- Vua Thiệu Trị
4- Vua Tự Đức
5- Vua Dục Đức
6- Vua Hiệp Hoà
7- Vua Kiến Phúc
8- Vua Hàm Nghi
9- Vua Đồng Khánh
10- Vua Thành Thái
12- Vua Duy Tân
12- Vua Khải Định
13- Vua Bảo Đại
Vua Gia Long
B- Ngoại thành Huế
1- Cầu trường tiền - Sông Hương
1- Cầu trường tiền - Sông Hương
Hoàng Hôn trên Sông Hương
2- Núi ngự Bình
Núi Ngự Bình: Cao 105 m
Cùng với Sông Hương, núi Ngự Bình là biểu tượng tuyệt vời của Huế. Người ta vẫn gọi Huế là miền Hương Ngự
3- Đồi thiên an và hồ thuỷ tiên
Đồi thông Thiên An
Hồ Thuỷ Tiên
4- Đồi vọng cảnh
Sông Hương nhìn từ đồi Vọng Cảnh
Đồi vọng cảnh Nằm ven sông Hương, chỉ cách lăng Tự Ðức và Ðồng khánh chừng 600m, cách trung tâm Thành phố khoảng 7km, không xinh đẹp và nổi tiếng như núi Ngự Bình. Nhưng đúng như tên gọi, đứng trên đồi Vọng cảnh, du khách có thể bao quát bức tranh phong cảnh thiên nhiên bao la kỳ thú của xứ Huế.
5- Chùa thiên mụ
Chùa Thiên Mụ
Tượng ở Chùa Thiên Mụ
6- Phu văn lâu
6- Phu văn lâu
Toàn cảnh Ngênh Lương Đình - Phu Văn Lâu
7- Toà thương bạc
Không gian toà Thương Bạc
7- Toà thương bạc
Đình Thương Bạc
8- Văn Thánh (Văn Miếu)
8- Văn Thánh (Văn Miếu)
Văn Bia
9- Võ thánh
Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Với chu vi khoảng 400m, cấu trúc Võ Miếu cũng không cầu kỳ, gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Chung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có nhà Tể sinh - là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế.
Năm 1839 (Minh Mạng thứ 20), triều đình cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu. Những tấm bia này ghi tên những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng như: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển...
Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới thời Tự Đức:
1. Khoa Ất Sửu (1865)
2. Khoa Mậu Thìn (1868)
3. Khoa Kỷ Tỵ (1869).
Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội..., trong miếu còn có bài vị thờ các danh tướng của Trung Quốc như: Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng...
10- Đàn Nam giao
Đàn Nam Giao - Nơi các Vua Nguyễn Tế Trời
10- Đàn Nam giao
11- hổ quyền
11- hổ quyền
Di tích Hổ Quyền
12- Điện voi ré
Theo truyền thuyết, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, trong một trận giao tranh với quân đội Đàng Ngoài, một dũng tướng của Đàng Trong hy sinh giữa trận tiền. Đau buồn trước cái chết của chủ, con voi của vị dũng tướng đã chạy trên một quãng đường dài hằng trăm dặm từ chiến địa về tận thủ phủ Phú Xuân, đến địa điểm phía đông của đồi Thọ Cương, nó đã rống lên một tiếng vang trời như phẫn uất, như đau thương cùng cực rồi phủ xuống trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước sự trung thành của một con vật có nghĩa, dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho nó, nguời ta vẫn gọi một cách mộc mạc là mộ Voi Ré. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré
13- Điện hòn chén
Đình Thương Bạc
13- Điện hòn chén
Điện Hòn Chén là một cụm di tích gồm khoảng 10 công trình kiến trúc to nhỏ khác nhau đều nằm lưng chừng sườn núi Ngọc Trản, hướng mặt ra sông Hương, ẩn mình dưới những tàng cây cao bóng cả.
14- trấn hải thành
Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) nằm ở vị trí gần cửa biển Thuận An cũ. Trận bão năm 1904 đã đổi dời cửa biển, lấp cửa cũ, mở cửa mới chỉ cách đó chừng 3km về phía Đông. Nhân dân gọi cửa Thuận An cũ là cửa Lấp (hoặc cửa Eo). Đây là một vị trí có tính chiến lược không chỉ đối với việc an nguy của Kinh Thành Huế - đầu não của bộ máy trung ương tập quyền dưới thời các vua Nguyễn, mà còn là vị trí quân sự được xem là “bất khả xâm phạm” của lực lượng viễn chinh Pháp, Mỹ tại miền duyên hải Thừa Thiên sau này.
Có thể nói, vua Gia Long khi chọn Huế làm kinh đô đã tính trước mọi lợi thế phòng thủ ở đây: mặt Bắc có Quảng Bình Quan, mặt Nam có Hải Vân Quan trấn giữ. Phía Tây là dãy núi Trường Sơn trùng điệp vươn tay che chở. Còn mặt Đông, cửa biển Thuận An chỉ cách Kinh Thành Huế chừng 13km - là nơi “yết hầu” của Kinh Thành, nhất thiết phải có một đồn quan ải để trấn giữ giặc cướp từ biển tràn vào. Trấn Hải Thành ban đầu có tên là Trấn Hải Đài, được khởi công xây dựng vào năm 1813. Đến năm 1834, dưới triều vua Minh Mạng, công trình được đổi tên là Trấn Hải Thành
15- nghênh lương đình
15- nghênh lương đình
Tuy không phải là một công trình đặc sắc về kiến trúc hoặc có quy mô lớn, nhưng Nghênh Lương Đình là một bộ phận không thể tách rời của cụm kiến trúc Nghênh Lương Đình - Phu Văn Lâu và Kỳ đài. Nghênh Lương Đình còn đi vào người bằng cái tên "bến Văn Lâu" trong đoạn ca dao bất hủ:
16- Cung an định
Cung môn Cung An Định
16- Cung an định
Đình Trung Lập, Khải Tường Lâu - Cung An Định
14- Cung an định
Nội thất Khải Tường Lâu - Cung An Định
17- các lăng tẩm
17- các lăng tẩm
Lăng Đồng Khánh
18- Kiến trúc ở huế
Kiến trúc ở Huế rất phong phú, đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại...Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là quần thể kiến trúc dưới triều các vua Nguyễn. Mỗi công trình kiến trúc là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, đặc sắc, độc đáo, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thẩm mỹ riêng biệt đã góp phần làm cho Huế trở thành "bài thơ đô thị tuyệt tác".
18- Kiến trúc ở huế
Bờ hồ lọ
Bờ quyết
18- Kiến trúc ở huế
Mỏi đầu hồi
Hoa văn và phù điêu trên Thái Bình Lâu
19- Nghệ thuật ở huế
Cảnh hát bội
19- Nghệ thuật ở huế
Cảnh Ca Huế
19- Nghệ thuật ở huế
Đội nhạc Cung Đình
19- Nghệ thuật ở huế
Vũ khúc Cung Đình
20- Lễ hội ở huế
Diều Huế
20- Lễ hội ở huế
Diều Huế
20- Lễ hội ở huế
Lễ hội làng Chuồn
20- Lễ hội ở huế
Lễ hội đua thuyền
21- món ăn huế
21- món ăn huế
21- món ăn huế
21- món ăn huế
Món ăn Huế cũng là một loại hình văn hóa, bởi vì nó không chỉ là thức ăn và khẩu vị mà quan trọng hơn thế nhiều, chính là nghệ thuật làm món ăn của người Huế. Huế đặc biệt còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân giã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được các bà nội trợ Huế chế biến khéo léo, thông minh với kỹ thuật nấu nướng giỏi giang, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn rất đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế. Ngoài ra, nếu ai đã từng thưởng thức một bữa cơm chay Huế (các món ăn được chế biến từ các loại thực vật), chắc chắn sẽ không bao giờ quên được hương vị tinh khiết tuyệt vời của những món ăn Huế.
22- Mỹ thuật - mỹ nghệ huế
22- Mỹ thuật - mỹ nghệ huế
23- bản đồ các điểm di tích cố đô huế
24- Bảo tồn
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Phê duyệt Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị
di tích cố đô Huế 1996-2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
(§· ký)
VÕ VĂN KIỆT
Trường Đại học sư phạm Hà Nội
khoa Mĩ Thuật
Sinh viên:Thân Ngọc Khanh
Luận văn tốt nghiệp
Đề tài: nghiên cứu bảo tồn các công trình Mĩ thuật thời Nguyên
24- Bảo tồn
Bảo tồn di sản văn hóa Cố đô Huế.
Phát huy mọi giá trị quý giá của di sản văn hóa cố đô Huế, bao gồm giá trị di sản văn hóa vật chất, giá trị di sản văn hóa tinh thần và giá trị di sản văn hóa môi trường cảnh quan đô thị và thiên nhiên trong việc giáo dục giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Di tích Cố đô Huế cần phải được bảo tồn trong quy họach tổng thể thống nhất; có phân cấp, phân loại những di sản cần bảo tồn theo đúng nguyên mẫu nhằm giữ nguyên giá trị lịch sử và giá trị văn hóa kiến trúc, nghệ thuật vốn có; những di sản cần được mô phỏng với các giải pháp tiên tiến, chất liệu hiện đại nhưng phải bảo đảm không làm thay đổi giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật vốn có của chúng. Chú trọng việc bảo quản thường xuyên các di tích trước các mối đe dọa như phá hoại, mất mát, xâm lấn, hỏa hoạn, sụp đổ. Ưu tiên các chương trình và biện pháp chống xuống cấp gắn với trùng tu trên cơ sở khoa học; chỉ phục nguyên những di tích có giá trị đặc biệt khi đã có đủ những căn cứ khoa học cần thiết.
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất