|
Tiểu thuyết “Ngư phủ” của Hoàng Minh Tường (NXB CAND 2005) như cái tên của nó là truyện về những người đánh cá trên biển. Truyện diễn biến theo số phận của những ngư dân Hải Thuỷ trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế kinh tế, sau cơn bão biển khủng khiếp, xoay quanh mấy nhân vật chính: Đàm, lão ngư phủ; Lịch, đội trưởng Đội kiểm ngư, nguyên Hải đoàn trưởng bộ đội biên phòng; Năm Nho, Đạo, trưởng tàu đánh cá Hải Thuỷ; Lưu cá ngựa, con buôn; Lưu 6 ngón, nguyên chủ nhiệm HTX đánh cá Hải Thủy; Võ Phẩm, một gã không rõ lai lịch đóng giả vai đặc phái viên của Trung ương chuyên theo dõi khối kinh tế nông lâm ngư nghiệp; Nhu, nguyên đội trưởng đội kiểm ngư, mới được điều sang làm Phó tiểu ban dự án đóng tàu đánh cá xa bờ; Ngô Nam, giám đốc Công ty đóng tàu Nam Hải; Tư Gia, chủ xưởng đóng tàu kiêm buôn gỗ lớn; một số nhân vật nữ như Duyên, công nhân, vợ Lịch; Hoa, y tá, con gái Tư Gia; Thục, vợ goá của ngư phủ trưởng tàu Đạo; Ngân, cô giáo, vợ goá của chiến sĩ hải quân Đan.
Truyện bắt đầu với cảnh tượng đau thương của làng cá Hải Thuỷ sau cơn bão biển khủng khiếp. Biển lúc bình thường đẹp, nên thơ, xanh mát, có những bãi cát thần tiên dành cho những cuộc tình cháy bỏng, nhưng khi nổi bão thật là dữ dội độc ác. Cơn giận vô cớ ấy của biển đã chôn vùi gần 200 ngư phủ, những người con khoẻ đẹp tài giỏi nhất của làng biển. Họ đã đem hết sức lực và tài bơi lặn để chống chọi với sóng bão nhưng không lại và đã vĩnh viễn ra đi để lại cha mẹ già, vợ trẻ, con thơ trong nỗi đau tiếc khôn nguôi và sự đợi chờ vô vọng. Người dân đánh cá ở đây gần như trắng tay, ngoài sự mất mát không thể bù đắp được về người, họ còn bị thiên tai cướp đi cả phương tiện đắt giá: những tàu, thuyền nhất là những tàu đánh cá xa bờ trị giá cả tỷ bạc. Cả tỉnh hướng về họ nhưng họ sẽ sống thế nào đây với một ít tư liệu sản xuất còn lại trong tay và vết thương to lớn không lành trong tim? Cấp trên có chủ trương tốt lập dự án đóng tàu đánh cá xa bờ cho ngư dân vay tiền mua. Nhưng dự án ấy được thực thi thế nào, có kết quả như thế nào? Hai câu hỏi trên cũng là những vấn đề của cuộc sống hôm nay đã phần nào được tiểu thuyết Ngư phủ của Hoàng Minh Tường giải đáp bằng hình tượng nghệ thuật.
Trước nhất là hình tượng về những người dân vùng biển. Cơn bão khủng khiếp đã gieo đau thương mất mát cho bao gia đình. Riêng gia đình lão ngư phủ Đỗ Trọng Đàm đã mất 4 người: Đạo, người con lớn, trưởng tàu; Đan, người con trai út, chiến sĩ hải quân về phép, đi tìm anh; Định, con trai của Đạo; Năm Nho, trưởng tàu, con ngoài giá thú của lão Đàm. Trước nhất nói về Đạo, tàu của Đạo chết máy, anh đã chèo chiếc thuyền thúng đi liên hệ với tàu bạn nhờ chi viện. Anh đã vật lộn với sóng gió và đói khát suốt 5 ngày và cuối cùng đã về được tàu mình. Song, anh đã hy sinh sau đó, trong cuộc chống trả bọn hải tặc khi tàu anh lạc vào hải phận nước khác. Được tin tàu Đạo mất tích, lão Đàm quyết mượn tàu đi tìm con. Đan cũng quyết theo bố đi tìm anh. Định cũng theo ông đi tìm bố. Không may gặp bão, Đan và Định bị sóng biển cuốn đi, chỉ có lão Đàm sống sót nhờ được Hải đoàn trưởng bộ đội biên phòng Vũ Trọng Lịch cứu. Năm Nho, đứa con “bí mật” của lão Đàm, trưởng tàu BD091 bị đắm tàu, đã vật lộn với sóng gió 12 ngày đêm chỉ với chiếc phao và một chiếc can nhựa. Lạc vào một hoang đảo, anh đã sống như Rôbinsơn Cơrusô 27 ngày đêm cho đến khi gặp được thổ dân. Trở về, Năm Nho lại tiếp tục làm trưởng tàu.
Lão Đàm, trong những ngày chưa được tin Năm Nho, vẫn vượt lên nỗi đau mất 3 con (2 con chính thức, 1 con riêng) và 1 cháu, đã tham gia vào công việc khôi phục sản xuất và đấu tranh với tệ đánh cá bằng mìn và bằng điện để bảo vệ loài cá quý của biển quê hương. Con người lão mang sức mạnh truyền thống của dòng họ Đỗ, dòng họ có tổ tiên từng làm đô uý đời Trần, là danh y đời Nguyễn (có thuốc quý bí truyền). Đó cũng là dòng họ có nhiều người tham gia cách mạng, là chiến sĩ tàu không số trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, là chuẩn đô đốc Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam. Lão Đàm con cá kình của Hải Thuỷ, người thứ 2 trong 3 người dòng họ Đỗ bơi không phao liền một hơi vượt 20 km biển, cũng từng là chiến sĩ Điện Biên chiến đấu trên đồi A1. Con người kiên quyết lái tàu đi tìm con trên biển cả mênh mông cũng là người đã gả chồng cho con dâu vì thương nó góa trẻ. Lão Đàm là điển hình cho khí phách, lòng nhân ái và sức sống của người dân biển. Tính cách, phẩm chất và sức sống đó đã được hun đúc trong lịch sử lâu dài đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội, lại được củng cố và nâng cao trong Cách mạng và kháng chiến. Những người dân ấy bị thiên tai bầm nát và bị nhân họa giày vò nhưng đã nhanh chóng vươn lên hàn gắn vết thương và làm thay đổi bộ mặt của quê hương. Họ chính là nguồn sáng tạo không bao giờ cạn, là chỗ dựa vững chắc của lực lượng lãnh đạo chân chính trong mọi cuộc đấu tranh, mọi chủ trương chính sách.
Vũ Trọng Lịch, người con của quê hương sông Đáy (Hà Tây) đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với biển, với quê hương thứ 2 Hải Thuỷ. Anh đã đưa vợ, Duyên, cô gái đẹp của quê hương tằm tơ về làm công nhân nhà máy chế biến thuỷ sản Hải Thuỷ. Anh đã dũng cảm vật lộn với sóng gió, hiểm nguy để cứu hàng chục ngư dân cho đến khi bị thương nặng ngất đi. Bình phục, anh vui lòng nhận công việc mới khó khăn phức tạp không kém công việc ở hải đội biên phòng: đó là đội trưởng kiểm ngư, thay cho Nhu, một người cơ hội và trì trệ. Anh đã nén nỗi đau riêng (vợ bị Lưu cá ngựa quyến rũ) để đưa tàu đi kiểm tra trên biển, dũng cảm và kiên quyết ngăn cản việc đánh cá bằng mìn, bằng điện để bảo vệ nguồn tài nguyên của biển cũng là nguồn sống lâu dài của ngư dân và anh đã hy sinh vì một mũi lao của bọn xấu (mà trong số chủ mưu có Lưu cá ngựa, tên con buôn dâm dục quỷ quyệt, kẻ phá hoại hạnh phúc của anh, kẻ tình địch của anh). Trong cuộc đấu tranh với cái xấu, cái ác, tạm thời Lịch chưa thắng (anh đã chết mà những kẻ hại anh vẫn còn đó) nhưng anh đã thắng trong lòng người: những người chiến sĩ kiểm ngư vẫn đứng vững sau anh, vợ anh sau phút lầm lỡ với Lưu cá ngựa đã nguyền rủa hắn và bỏ hắn ra đi, gửi lại một lá thư tạ tội với anh, đứa con thiên thần của anh với con dâu góa của lão Đàm đã được lão coi như cháu nội của mình. Lịch có thể coi là điển hình của con người mới, người anh hùng, mẫu hình tượng còn mờ nhạt trong văn học giai đoạn hiện nay.
Cuộc đấu tranh với con người có khi còn khó khăn, phức tạp hơn cả cuộc đấu tranh với thiên nhiên. Thiên nhiên chỉ giận dữ từng lúc và cơn giận của nó con người có thể biết trước được chứ con người thì biết giấu cái xấu, cái ác của mình trong những cơ chế, những dự án: cơ chế xin cho, dự án đấu thầu, cho vay… Cơn bão khủng khiếp đi qua, mọi người đều đau đớn nhưng có kẻ vui mừng vì con tàu mà nó đóng, nó mua cho Nhà nước - mặc dù giá cao hơn giá trị thực sáu, bảy trăm triệu nhưng vẫn không đủ sức chống đỡ với gió cấp 6, cấp 7 - bây giờ coi như là phi tang. Rồi cuộc đấu thầu mới, những mức giá được đôn lên, những phong bì dày cộp được chia chác, và cả những cuộc hành lạc trơ trẽn, bẩn thỉu được bày ra để mua chuộc, để bù trả. Tác giả đã khéo léo đặt vào mồm mấy viên quan chức tham nhũng những câu tự chửi: “Không có dự án thì quan chức sống bằng cái gì?....” (lời Võ Phẩm) “Vua cũng chỉ sướng như thế này là cùng. Mới có tí chức tí quyền mà đã như hoàng đế” (lời Nhu, tân phó trưởng tiểu ban dự án). Những con người không phải của chúng ta vẫn hàng ngày ngang nhiên sống. Lưu sáu ngón, tên dâm ô khét tiếng, nguyên chủ nhiệm HTX đánh cá đã giải thể lại được mời ra làm chủ nhiệm cái HTX “ma” để có người ký nhận vay tiền cho “đúng với thủ tục, cơ chế”(!). Bọn buôn kích điện, thuốc nổ vẫn nhởn nhơ. Bọn giết Lịch vẫn ngoài vòng pháp luật. Mấy vị trong Ban dự án đóng tàu có biệt thự to đẹp bề thế nhất Hải Thuỷ. Lưu sáu ngón mở khách sạn. Con rể Võ Phẩm mở Trung tâm cung cấp tôm cá giống…
Tuy nhiên, giời có mắt, Lưu cá ngựa, gã con buôn lưu manh lũng đoạn giới quan chức, con quỷ dâm dục đã quyến rũ và làm nhục hàng tá phụ nữ, đã bị bệnh AIDS, lở loét khắp người. Vụ án giết hại đội trưởng Lịch vẫn đang được con rể lão Đàm cùng công an tỉnh, huyện tiếp tục điều tra. Những người ngư dân Hải Thuỷ nuôi cá song thu hàng trăm triệu một năm. Làng cá Hải Thủy trở thành thị trấn ven biển sầm uất, trên bến dưới thuyền tấp nập, nhà cao tầng san sát… Nhưng ở Hải Thuỷ đã xuất hiện một nghĩa trang tàu… Những con tàu không thể ra khơi vì nhiều lý do, đã biến thành phế liệu. Cuộc sống vẫn đi lên theo quy luật sinh tồn nhưng lẽ ra nó còn phát triển hơn, nhanh hơn, mạnh hơn nếu những cái sai, cái xấu được thanh toán sớm hơn, dứt khoát hơn.
Hiện thực trong tác phẩm là lời cảnh báo sự xuống cấp của môi trường thiên nhiên, môi trường nhân văn và cũng là thông điệp đấu tranh khẩn thiết mà tác giả gửi đến tất cả chúng ta.
Khép lại cuốn tiểu thuyết, ta vừa buồn, vừa vui. Buồn vì những đau thương do thiên tai gây ra vẫn còn vương vấn, những tổn thất do con người gây ra vẫn còn tiếp diễn. Nhưng ta vui vì sự sống không bao giờ chán nản, sự sống nhất là sức sống của nhân dân lao động trên biển vẫn mạnh mẽ, không gì có thể ngăn cản được. Sức sống từ nghìn năm trước qua thiên tai, nhân hoạ, qua thử thách của thời gian và biến thiên của lịch sử vẫn dào dạt, vẫn kiên cường và vẫn liền một mạch nguồn. Người anh em cùng cha khác mẹ với lão Đàm, cựu chuẩn đô đốc quân đội Sài Gòn, bây giờ là một Việt Kiều ở Mỹ đã gửi tặng Nhà nước ta tài liệu quý về quần đảo Hoàng Sa và sách thuốc quý bí truyền. Ngân, cô giáo thương học trò như con, vợ goá của 2 người anh hùng, người chồng trước: Đan - chiến sĩ hải quân, người chồng sau: Lịch đội trưởng kiểm ngư, vẫn trẻ đẹp. Giọt máu Lịch để lại trong lòng Ngân đã thành một cu con đẹp như một thiên thần và giống cha như đúc. Tất cả… tất cả… đã làm cho ta tin ở con người, tin ở ngày mai như tin vào sức mạnh truyền thống, đạo lý của nhân dân lao động Việt Nam.
Và một điều nữa, đọc Ngư phủ, ta vui vì có trong tay mình cuốn tiểu thuyết hay. Nó chứng minh sức sống của nền văn học hiện đại, sức bút của cây bút văn xuôi Hoàng Minh Tường. Cuốn sách 299 trang đọc liền một mạch không nghỉ chẳng những vì có nhiều chi tiết sống, nhiều tình tiết phong phú khéo cài đặt và thủ pháp kể chuyện biến hoá, đa dạng, mà trước nhất vì cảm xúc yêu ghét của tác giả từ trái tim đầy nhiệt huyết thắm đượm vào từng câu chữ, lay động lương tâm, dù vẫn phải tuân thủ phương thức khách quan của thể loại tác phẩm. Thứ nữa, nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả đã làm cho những hình tượng con người trong tác phẩm cứ hiển hiện trước mắt như những con người đang sống, những “con người này” như Hêghen từng đòi hỏi... Song cũng chính vì thế, khép lại cuốn tiểu thuyết người đọc vẫn muốn nó dầy hơn, đầy đặn hơn, đa diện hơn để được hiểu sâu hơn nữa về những quá trình sống, phương diện sống của nhiều loại người (nhất là những nhân vật nữ), ở một giai đoạn mới phức tạp, sôi động nhiều biến động và giàu kịch tính như giai đoạn hiện nay.
|
Các ý kiến mới nhất